Điểm nhấn
Liên kết web
Số lượt truy cập

27

240620

Chi tiết tạp chíSố 4 - 2018

Đại hội Hiệp hội Xã hội học quốc tế lần thứ 19 tại Toronto, Canada

Tác giả: N.H.M

Trang: 95-96

Từ ngày 16 đến 21/7/2018, Đại hội Hiệp hội Xã hội học quốc tế lần thứ 19 với chủ đề “Quyền lực, Bạo lực và Công lý: Phản ảnh, Phản ứng và Trách nhiệm” (Power, Violence and Justice: Reflections, Responses and Responsibilities) đã diễn ra tại thành phố Toronto, Canada. Hơn 5.000 đại biểu từ 101 nước đã tới tham dự vào hơn 1.200 phiên họp với phạm vi rộng lớn các chủ đề và cách thể hiện (bao gồm 57 ủy ban nghiên cứu chuyên đề như lực lượng vũ trang và các xử lý xung đột; kinh tế và xã hội; nghiên cứu cộng đồng; xã hội học giáo dục; nghiên cứu gia đình; lịch sử xã hội học; v.v.; phiên họp của nhóm làm việc; các nhóm theo chủ đề; nhóm kết hợp giữa ủy ban nghiên cứu và nhóm làm việc; sự phát triển nghề nghiệp; v.v.). Đại hội đã có các bài trình bày và thảo luận về những vấn đề ảnh hưởng đến cấu trúc xã hội, các mối quan hệ xã hội và hành vi xã hội. Đại hội cũng đề cập đến việc xử lý các quan hệ quyền lực; phê phán lịch sử thuộc địa và việc xâm chiếm đất đai hiện nay; phản ánh những quá trình cấu trúc và văn hóa đang góp phần duy trì bạo lực chống lại người bản địa và thiểu số; nhìn nhận lại chế độ gia trưởng, bạo lực và phân biệt đối với phụ nữ; nghiên cứu bạo lực trong chiến tranh, nghèo khổ, phân biệt chủng tộc và phân biệt giới, di cư cưỡng bức; v.v. Một đặc điểm quan trọng của Đại hội lần này là có sự liên kết và tích hợp của xã hội học với các ngành khác cũng như của các tổ chức xã hội nhằm làm sâu sắc thêm những hiểu biết của các nhà xã hội học về những thách thức kinh tế, chính trị, xã hội phức tạp của thế giới và tìm kiếm cách thức có hiệu quả xóa bỏ bạo lực, củng cố sự bình đẳng và công bằng. Giáo sư Margaret Abraham, Chủ tịch Hiệp hội Xã hội học quốc tế, đã đọc bài khai mạc Đại hội. Đại hội đã được nghe thư chào mừng của Thủ tướng Canada, Ngài Justin Trudeau; Thị trưởng thành phố Toronto, Ngài John Tory; và Giáo sư Rima Wilkes, Chủ tịch Hội Xã hội học Canada. Các bài phát biểu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của Đại hội trong việc tạo ra cơ hội cho các nhà xã hội học kết hợp với các học giả các ngành khác, các nhà hoạch định chính sách, các nhà báo và các nhà hoạt động xã hội, đóng góp vào việc hiểu biết sâu sắc về quyền lực, bạo lực, sự công bằng và những con đường tiến tới một thế giới công bằng hơn. Với hơn 1.200 phiên họp, đại hội đã làm việc một cách rất tích cực và khẩn trương. Các diễn giả chỉ được phép trình bày với thời gian hạn chế, dưới 15 phút. Tại các phiên họp, ngoài các bài trình bày chính, còn có hình thức giới thiệu các bài viết đang trong quá trình hoàn thiện với thời gian ngắn hơn, mục đích là để giới thiệu được càng nhiều càng tốt các kết quả và ý tưởng nghiên cứu. Trong số 57 ủy ban nghiên cứu chuyên đề có một số ủy ban tập trung vào những chủ đề nghiên cứu gia đình và giới như ủy ban số 6 (Nghiên cứu gia đình), ủy ban số 11 (Nghiên cứu xã hội học về tuổi già), ủy ban số 32 (Phụ nữ trong xã hội), ủy ban số 34 (Xã hội học thanh niên), ủy ban số 53 (Xã hội học tuổi thơ). Ngoài ra, các vấn đề về gia đình và giới nói chung được trình bày trong rất nhiều phiên họp của các uỷ ban khác cũng như các nhóm làm việc. GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Tổng biên tập Tạp chí Nghiên cứu Gia đình và Giới, đã tham dự Đại hội và trình bày báo cáo về “Giá trị gia đình Việt Nam: Sự tương đồng và khác biệt giữa hai thành phố lớn ở miền Bắc và miền Nam - Hà Nội và Cần Thơ” tại phiên họp của ủy ban Nghiên cứu gia đình với chủ đề “Thay đổi khuôn mẫu giá trị và thực tiễn gia đình châu á: Nghiên cứu so sánh dựa trên nguồn dữ liệu liên quốc gia ở châu á”. Các học giả đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thổ Nhĩ Kỳ cũng tham gia trình bày tại phiên họp này về một số vấn đề như sự thay đổi giá trị và hành vi gia đình; sự thay đổi thái độ đối với vai trò giới và tính gia trưởng; về mức sinh; về ảnh hưởng của bố mẹ và gia đình đối với việc kết hôn của những người trẻ tuổi; về việc làm của người vợ và bất bình đẳng thu nhập tại một số nước và vùng lãnh thổ châu á. GS. Nguyễn Hữu Minh đã sử dụng số liệu khảo sát về thái độ và nhận thức về gia đình ở Hà Nội 2010 (1.219 người trả lời) và Cần Thơ 2017 (1.205 người trả lời) để phân tích và so sánh một số khía cạnh về thái độ của người dân hai địa phương về vấn đề tìm hiểu và lựa chọn bạn đời, quyền quyết định hôn nhân, giá trị con cái. Số liệu phân tích chỉ ra rằng người dân hai địa phương chia sẻ nhiều giá trị gia đình cơ bản về hôn nhân và giá trị con cái, điều đó cho thấy sự bảo lưu truyền thống văn hoá của người Việt nói chung. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, như là kết quả của các quá trình lịch sử và biến đổi văn hoá ở phía Nam, các giá trị gia đình ở người dân Cần Thơ có những khác biệt nhất định với người dân Hà Nội. Chẳng hạn, tiêu chí lựa chọn bạn đời ở người dân Cần Thơ mang định hướng gắn với nhu cầu của nền kinh tế thị trường hơn; ảnh hưởng của gia đình trong các quyết định hôn nhân ở Cần Thơ là cao hơn và sự thay đổi về vấn đề này trong mấy thập kỷ qua là chậm hơn; nhu cầu có con và có con trai ở người dân Cần Thơ là yếu hơn. Trong khi đó, người dân Cần Thơ đánh giá cao hơn giá trị kinh tế của con cái so với người dân Hà Nội. Bài trình bày cũng gợi ra một số hướng nghiên cứu trong việc phân tích so sánh về giá trị gia đình ở hai khu vực như quan tâm hơn đến vai trò của các yếu tố văn hoá (thông qua so sánh giữa các giai đoạn khác nhau) và chính sách nhà nước, đến quá trình hội nhập và thích ứng văn hoá, về nhịp độ biến đổi của các giá trị gia đình cụ thể. Đặt vấn đề so sánh giá trị gia đình ở Hà Nội và Cần Thơ trong khung cảnh văn hoá Đông á và Đông Nam á cũng là một khía cạnh có thể quan tâm.

Hội thảo khoa học “Hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”

Tác giả: Thanh Mai

Trang: 93-94

Thực hiện kế hoạch triển khai hoạt động khoa học năm 2018, ngày 12/6/2018, tại Hà Nội, Viện Xã hội học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Hội Xã hội học Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học “Hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản: một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Tham dự hội thảo có PGS.TS. Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; TS. Bùi Phương Đình, Viện trưởng Viện Xã hội học; PGS.TS. Đặng ánh Tuyết, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học cùng toàn thể cán bộ, học viên đang học tập tại Viện Xã hội học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Về phía Hội Xã hội học Việt Nam có GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Chủ tịch Hội Xã hội học Việt Nam; PGS.TS.Vũ Hào Quang, Phó Chủ tịch Hội Xã hội học Việt Nam; GS.TS. Trịnh Duy Luân, ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Ban Nghiên cứu Khoa học Hội Xã hội học Việt Nam cùng nhiều thành viên khác của Hội Xã hội học Việt Nam cùng tham dự hội thảo. Hội thảo đã có sự tham gia rộng rãi và tập hợp được nhiều báo cáo tham luận có chất lượng trong lĩnh vực nghiên cứu dịch vụ xã hội cơ bản của các nhà khoa học đến từ Viện Xã hội học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Hội Xã hội học Việt Nam, Học Viện Báo chí và Tuyên truyền. GS.TS. Nguyễn Hữu Minh phát biểu khai mạc đã giới thiệu về mục đích, ý nghĩa của hội thảo khoa học, nhấn mạnh vai trò của dịch vụ xã hội cơ bản là nền tảng để xã hội ổn định và phát triển, đồng thời là thước đo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Phát biểu chào mừng hội thảo, PGS.TS. Lê Quốc Lý, Phó Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, đánh giá cao sáng kiến của Viện Xã hội học và Hội Xã hội học Việt Nam tổ chức hội thảo về vấn đề các dịch vụ xã hội cơ bản, đồng thời nêu ra yêu cầu đối với các nhà khoa học cần quan tâm nhiều hơn đến việc kết hợp giữa khía cạnh lý thuyết và thực tiễn của vấn đề, nhằm đóng góp tốt hơn vào việc hoạch định chính sách của Nhà nước về vấn đề này. Báo cáo tham luận của GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Hội Xã hội học Việt Nam là “Dịch vụ công thuộc lĩnh vực gia đình: khái niệm và chỉ báo đo lường” đã nêu lên khái niệm và một số khía cạnh về chỉ báo đo lường qua các nghiên cứu trong nước và quốc tế. Trong đó chỉ báo đo lường qua các nghiên cứu quốc tế và trong nước được đề cập trên các lĩnh vực văn hóa, thể thao, phòng chống bạo lực gia đình. GS.TS Trịnh Duy Luân, Hội Xã hội học Việt Nam với tham luận: “Dịch vụ xã hội cơ bản của Việt Nam hiện bao trùm ở mức độ nào?” đã cho rằng: cùng với sự phát triển của các điều kiện sống nói chung, các dịch vụ xã hội cơ bản càng được mở rộng ra. Chẳng hạn như gần đây yêu cầu của người nghèo còn bao gồm: nhu cầu được tham gia (có tiếng nói, được lắng nghe), được “tiếp nhận thông tin”. Báo cáo còn đưa ra mối liên hệ giữa dịch vụ xã hội với mối liên hệ với nghèo đa chiều và các tiêu chí. Tham luận “Tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản cho nhóm dân tộc thiểu số thực trạng và một số hàm ý chính sách” của PGS.TS. Đặng ánh Tuyết, Viện Xã hội học đã nêu lên thực trạng tiếp cận một số dịch vụ xã hội cơ bản của nhóm dân tộc thiểu số, bao gồm thực trạng tiếp cận giáo dục, thực trạng tiếp cận dịch vụ y tế, thực trạng tiếp cận dịch vụ đảm bảo điều kiện sống, thực trạng tiếp cận thông tin. Tác giả cũng nêu lên một số hàm ý chính sách cải thiện cơ hội tiếp cận dịch vụ xã hội cho nhóm dân tộc thiểu số: đối với tiếp cận dịch vụ giáo dục; tiếp cận dịch vụ y tế; tiếp cận dịch vụ đảm bảo điều kiện sống; tiếp cận thông tin. TS. Dương Thị Thu Hương, Học viện Báo chí & Tuyên truyền trong tham luận “tiếp cận dịch vụ công của người dân: phân tích trường hợp tiếp cận dịch vụ y tế công tại Việt Nam hiện nay” nêu lên một khía cạnh khác của dịch vụ công. Báo cáo nêu rõ khái niệm dịch vụ công và các loại dịch vụ công tại Việt Nam hiện nay; tiếp cận dịch vụ công của người dân: phân tích trường hợp tiếp cận dịch vụ y tế của người dân hiện nay. Tham luận “Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và yêu cầu nâng cao chất lượng dịch vụ giáo dục và đào tạo” của TS. Hà Việt Hùng lại đưa ra câu hỏi các dịch vụ giáo dục và đào tạo đang biến đổi như thế nào trong quá trình hiện đại hóa của đất nước hiện nay?. Tham luận nêu lên biến đổi bối cảnh xã hội, biến đổi dịch vụ giáo dục và đào tạo ở nước ta, cơ hội và thách thức của dịch vụ giáo dục và đào tạo. Báo cáo “Thực trạng tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở của người dân hiện nay” (Qua khảo sát tại Huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) của Phạm Võ Quỳnh Hạnh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, mô tả thực trạng tiếp cận thông tin về dịch vụ nước sạch và nhà ở của người dân thông qua kết quả nghiên cứu thực nghiệm ở các khía cạnh nội dung và tần suất tiếp cận thông tin, kênh tiếp cận thông tin và mục đích tiếp cận thông tin. Phát biểu bế mạc Hội thảo, TS. Bùi Phương Đình đã đánh giá cao các trình bày và ý kiến thảo luận của các đại biểu tham dự. TS. Bùi Phương Đình hy vọng rằng, trong thời gian tới sẽ có nhiều hình thức kết hợp hơn nữa giữa Hội Xã hội học và các đơn vị nghiên cứu, đào tạo về xã hội học trong việc thảo luận về những vấn đề bức thiết của xã hội Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Hội thảo khoa học “Hệ thống các dịch vụ xã hội cơ bản: một số vấn đề lý luận và thực tiễn” thành công tốt đẹp và để lại nhiều tư liệu và bài học kinh nghiệm quý báu trong nghiên cứu về lĩnh vực dịch vụ xã hội cơ bản hiện nay ở Việt Nam.

Hội thảo khoa học quốc tế “Biến đổi gia đình Việt Nam trong mối quan hệ với biến đổi gia đình trên thế giới”

Tác giả: Nguyễn Hà Đông

Trang: 91-92

Trong khuôn khổ Chương trình trọng điểm cấp Bộ “Nghiên cứu, đánh giá tổng thể về gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” (Mã số: KHXH-GS/16-19), ngày 28/6/2018, tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã tổ chức hội thảo khoa học quốc tế với chủ đề “Biến đổi gia đình Việt Nam trong mối quan hệ với biến đổi gia đình trên thế giới”. Mục tiêu của hội thảo nhằm chia sẻ và trao đổi các kết quả nghiên cứu về sự biến đổi các đặc điểm của gia đình ở Việt Nam của các đề tài thuộc chương trình cũng như công trình nghiên cứu của các học giả quốc tế đến từ các nước trong khu vực châu á - Thái Bình Dương như Lào, Campuchia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia. Hội thảo đã thu hút được sự quan tâm và tham gia của đông đảo các đại diện đến từ các tổ chức trong và ngoài nước. Về phía trong nước, có sự hiện diện của GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Chủ nhiệm Chương trình; GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Phó Chủ nhiệm Chương trình; các chủ nhiệm và thành viên 12 đề tài; đại diện các viện nghiên cứu chuyên ngành; các trường đại học như Học viện Phụ nữ, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội, Học viện Khoa học Xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Ngoài ra, hội thảo còn có sự tham gia của các bộ, ban ngành như Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và các tổ chức khác. Về phía quốc tế, các nhà khoa học đến từ Viện Khoa học xã hội Quốc gia Lào; Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Campuchia; Đại học RMIT, Australia; Đại học Quốc gia Seoul, Hàn Quốc; Đại học Quản lý Singapore; Đại học Kobe, Nhật Bản đã tham gia và chia sẻ kết quả nghiên cứu và các bài học kinh nghiệm từ quá trình biến đổi gia đình ở các nước. Hội thảo còn thu hút sự tham gia của đại diện các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như UN Women và các tổ chức quốc tế khác. Sau bài phát biểu khai mạc hội thảo của GS.TS. Nguyễn Quang Thuấn, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Chủ nhiệm Chương trình và báo cáo đề dẫn của GS.TS. Nguyễn Hữu Minh, Phó Chủ nhiệm Chương trình, Hội thảo được chia làm 3 phiên nội dung chính. Phiên 1 và phiên 2 trình bày các kết quả nghiên cứu về sự biến đổi các chức năng, đặc điểm của gia đình Việt Nam do các đề tài thuộc Chương trình thực hiện trong giai đoạn 2016-2018. Phiên 1 với chủ đề “Gia đình trong mối quan hệ với các thiết chế xã hội khác” gồm các bài trình bày: “Một số đặc trưng cơ bản của hôn nhân ở Việt Nam” của GS.TS. Nguyễn Hữu Minh; “Gia đình trung lưu ở Việt Nam với các quá trình phát triển kinh tế-xã hội-văn hóa” của GS.TS. Trịnh Duy Luân; “Chức năng kinh tế gia đình Việt Nam: Xu hướng biến đổi và hàm ý chính sách” của PGS.TS. Nguyễn Chiến Thắng; “Sinh hoạt tín ngưỡng trong gia đình Việt Nam, những đặc trưng cơ bản” của TS. Nguyễn Ngọc Mai. Phiên 2 với chủ đề “Gia đình nhìn từ tiếp cận đa chiều” gồm các bài trình bày: “Giá trị cơ bản của gia đình Việt Nam đương đại” của PGS.TS. Trần Thị Minh Thi; “Một số đặc điểm biến đổi gia đình Việt Nam trong mấy thập niên qua” của TS. Trần Thị Hồng; “Kinh nghiệm phòng chống bạo lực gia đình ở một số quốc gia và thực tế ở Việt Nam” của PGS.TS. Đặng Thị Hoa; “Các yếu tố tác động đến ly hôn ở Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp Hà Nội, Khánh Hòa và Tiền Giang” của PGS.TS. Vũ Mạnh Lợi. Với các cách tiếp cận đa dạng từ nhiều chiều cạnh, chức năng khác nhau của gia đình, các bài trình bày đã nêu được những vấn đề trọng tâm trong sự biến đổi của gia đình Việt Nam và phác họa được bức tranh tổng thể của gia đình Việt Nam đương đại. Phiên 3 với chủ đề “Xu hướng biến đổi gia đình - kinh nghiệm quốc tế và Việt Nam” tập trung trình bày các đặc điểm về sự biến đổi gia đình cũng như chia sẻ bài học kinh nghiệm từ các nước trước những thách thức do biến đổi gia đình mang lại. Phiên này gồm có 6 bài trình bày : “Mối quan hệ gia đình, văn hóa và biến đổi gia đình ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào” của nhà nghiên cứu Vanxay Keoxayavong; “Một vài chiều cạnh chuyển đổi gia đình Khmer-Suy ngẫm từ quan sát cá nhân” của TS. Chhort Bunthang; “Hỗ trợ gia đình đối với người cao tuổi ở Thái Lan” của PGS.TS. Bussarawan Puk Teerawichitchainan; “Những thách thức đối với gia đình Hàn Quốc đương đại” của GS.TS. Ki-Soo Eun; “Biến đổi gia đình ở Nhật Bản với sự nhấn mạnh đến việc giảm tỷ lệ sinh” của GS.TS. Yoshihiko Shiratori và “Xã hội học gia đình và sự nghèo khổ-bối cảnh ở úc” của TS. Karien Dekker. Các vấn đề trong quá trình biến đổi gia đình ở các nước phát triển và chưa phát triển là những bài học kinh nghiệm quý báu đối với Việt Nam. Nhìn chung, các học giả và đại biểu tham dự đều đánh giá cao và có nhiều ý kiến trao đổi, góp ý xác đáng cho các báo cáo trình bài tại hội thảo. Các đại biểu tham dự cũng đề cao vai trò và tầm quan trọng của các nghiên cứu về sự biến đổi của gia đình nói chung và Chương trình “Nghiên cứu, đánh giá tổng thể về gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế” nói riêng trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội chung của đất nước. Trong bối cảnh thiếu vắng các nghiên cứu mang tầm quốc gia về gia đình, các nghiên cứu thuộc Chương trình Gia đình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp những cứ liệu xác đáng cho quá trình điều chỉnh, ban hành các chính sách về gia đình. Thay mặt Chương trình Gia đình và Ban tổ chức hội thảo, GS. TS. Nguyễn Hữu Minh trân trọng cảm ơn các ý kiến đóng góp của các học giả và tin rằng, qua hội thảo các đề tài thuộc Chương trình sẽ tiếp tục hoàn thiện để cung cấp những luận cứ sâu sắc hơn cho việc hoạch định chính sách về gia đình ở Việt Nam. GS. Nguyễn Hữu Minh cũng nhấn mạnh rằng việc tổ chức hội thảo về biến đổi gia đình vào ngày gia đình Việt Nam 28-6 là một hoạt động quan trọng và rất có ý nghĩa để thiết thực tôn vinh các gia đình Việt Nam.

Sự khác biệt giới trong quan niệm về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân (Nghiên cứu trường hợp tại Hà Nội)

Tác giả: Lê Thu Hiền

Trang: 79-90

Tóm tắt: Bài viết tìm hiểu quan niệm của các cặp vợ chồng trẻ về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân trên cơ sở một đề tài nghiên cứu được thực hiện đối với 180 cặp vợ chồng vào năm 2016 tại Hà Nội. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các cặp vợ chồng trẻ hiện nay cho rằng tình dục có ý nghĩa gắn kết tình cảm vợ chồng và thể hiện hình ảnh bản thân cũng như duy trì nòi giống và mang lại khoái cảm cá nhân. Có sự khác biệt về giới trong các nhận định về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân. Nghiên cứu cũng cho thấy những cặp vợ chồng có quan niệm giống nhau về ý nghĩa của tình dục trong hôn nhân có mức độ thỏa mãn về đời sống hôn nhân cao hơn so với các cặp vợ chồng có sự khác biệt.

Công việc chăm sóc không lương: Nhìn từ góc độ giới

Tác giả: Phạm Thu Hiền

Trang: 68-78

Tóm tắt: Công việc chăm sóc không lương là vấn đề sống còn đối với cuộc sống của con người và sự vận hành của nền kinh tế bất chấp thực tế về sự vô hình của nó trong các diễn đàn và thảo luận chính sách của các quốc gia. ở phạm vi toàn cầu, gánh nặng công việc chăm sóc không lương tác động tiêu cực đến cuộc sống của phụ nữ. Một trong những chỉ tiêu của Mục tiêu Phát triển bền vững (Mục tiêu 5) là “công nhận giá trị của công việc chăm sóc không lương thông qua cung cấp dịch vụ công, cơ sở hạ tầng và chính sách an sinh xã hội, tăng cường chia sẻ trách nhiệm trong gia đình”. ở Việt Nam, giảm thời gian làm công việc chăm sóc không lương của phụ nữ được xác định trong Chiến lược Bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020. Dựa trên việc rà soát các nghiên cứu và số liệu, bài viết cung cấp bằng chứng về sự ảnh hưởng của gánh nặng công việc chăm sóc không lương đối với sự phát triển của phụ nữ và bàn về những vấn đề của Việt Nam, qua đó góp phần vào các cuộc thảo luận chính sách ở Việt Nam.

“Mái ấm” - một mô hình bảo trợ xã hội của các dòng tu Công giáo dành cho những người mẹ đơn thân tại thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả: Vũ Mạnh Quân

Trang: 60-67

Tóm tắt: Nhiều thập niên trước đây, hiện tượng người phụ nữ có con ngoài giá thú thường bị gia đình và cộng đồng có cái nhìn không thiện cảm. Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến đổi, hiện tượng “người mẹ đơn thân” xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt là những phụ nữ trẻ bất đắc dĩ trở thành mẹ đơn thân do hôn nhân trắc trở, mang thai ngoài ý muốn, trong điều kiện kinh tế rất khó khăn và bấp bênh. Họ bị giằng co giữa nhiều thử thách về công ăn việc làm, học hành, tình yêu, tình mẫu tử, thuần phong mỹ tục… để mang thai, sinh nở và nuôi con một mình. Nhận biết được những khó khăn của nhóm người mẹ này, các thành viên (cá nhân và tổ chức) thuộc Giáo hội Công giáo tại thành phố Hồ Chí Minh lập ra những “Mái ấm” để cưu mang những người mẹ đơn thân. Bài viết giới thiệu về những “Mái ấm” này như một mô hình hoạt động bảo trợ xã hội cho những nhóm yếu thế, do các cá nhân / tổ chức tôn giáo thực hiện những năm gần đây.

Một số tiếp cận lý thuyết trong nghiên cứu trầm cảm sau sinh

Tác giả: Bùi Thu Hương

Trang: 51-59

Tóm tắt: Trầm cảm sau sinh là một trong những vấn đề sức khoẻ phổ biến nhất liên quan đến thời kỳ thai sản. Mặc dù đều thống nhất ở một số điểm như tình trạng trầm cảm của bà mẹ sau sinh đã và đang mang lại những ảnh hưởng tiêu cực đối với sức khoẻ và sự phát triển toàn diện của cả bà mẹ và con trẻ, nhưng mỗi cách tiếp cận nghiên cứu đều đưa ra những cách diễn giải khác nhau. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi mong muốn đóng góp vào những tranh luận hiện có về chủ đề này ở Việt Nam bằng cách tổng thuật giới thiệu hai cách tiếp cận phổ biến đang được các học giả phương Tây sử dụng là y sinh học và kiến tạo xã hội.

Ly hôn và tác động của ly hôn đến con

Tác giả: Phan Thị Luyện

Trang: 40-50

Tóm tắt: Trên cơ sở kết quả khảo sát tại quận Đống Đa, Hà Nội, bài viết tìm hiểu về ly hôn và những tác động của ly hôn đến con. Bài viết cho thấy ly hôn có xu hướng gia tăng trong xã hội và có ảnh hưởng đặc biệt đến con cái. Thứ nhất, đó là sự thay đổi về chỗ ở và kèm theo đó là sự suy giảm về mức sống sau ly hôn. Thứ hai, ly hôn là một cú sốc tinh thần đối với con cái mà chúng khó có thể quên đi, thậm chí có thể ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ cho tới lúc chúng trưởng thành. Không những thế, trẻ em sau khi bố mẹ ly hôn cũng gặp khó khăn không hề nhỏ ở trường, đặc biệt là trong quan hệ bạn bè. Trẻ có biểu hiện mặc cảm, tự ti, có xu hướng co mình lại, dẫn đến suy nghĩ tiêu cực.

Sự thiếu hụt chính sách an sinh xã hội cho các gia đình ở Việt Nam hiện nay

Tác giả: Đặng Nguyên Anh

Trang: 28-39

Tóm tắt: Dựa trên số liệu khảo sát 1818 hộ gia đình trên địa bàn 6 tỉnh thành ở Việt Nam trong khuôn khổ đề tài cấp Bộ “Chính sách an sinh xã hội cho các gia đình ở Việt Nam trong bối cảnh hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”, bài viết phân tích những khó khăn hiện nay của hộ gia đình, sự hỗ trợ và mong muốn về an sinh của người dân và nhóm đối tượng nên ưu tiên hỗ trợ ASXH. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập và việc làm là một trong những khó khăn phổ biến mà các hộ gia đình đang gặp phải. Trong khi đó, mong muốn được hỗ trợ về an sinh xã hội của các hộ gia đình còn khác xa so với những gì mà họ tiếp nhận được từ các chương trình, chính sách hiện nay. Nhu cầu được vay vốn, có việc làm và bảo hiểm y tế luôn là mong muốn hàng đầu của các gia đình, và nhóm hộ nghèo vẫn là đối tượng đầu tiên cần được quan tâm về an sinh xã hội. Thực tế này cho thấy đang có sự thiếu hụt các chính sách an sinh xã hội cho các gia đình hiện nay, đồng thời cần chú ý sự khác biệt giữa các nhóm hộ, tránh ban hành và áp dụng một chính sách chung cho tất cả.

Quan hệ gia đình trong các gia đình trung lưu ở nước ta hiện nay

Tác giả: Trịnh Duy Luân & Phạm Quỳnh Hương

Trang: 16-27

Tóm tắt: Sử dụng kết quả nghiên cứu về gia đình trung lưu năm 2017, bài viết chỉ ra những đặc điểm của quan hệ gia đình trong các gia đình trung lưu (GĐTL), tập trung ở hai mối quan hệ: vợ - chồng và bố mẹ - con cái. Phân tích cho thấy nếu như trong phân công lao động giữa vợ và chồng ở các GĐTL còn có những yếu tố bất bình đẳng thì trong quyền quyết định các công việc quan trọng của gia đình, đa số các GĐTL đang ứng xử theo mô thức “cả hai vợ chồng cùng quyết định” - phản ánh mức độ bình đẳng giới khá cao. Tương tự, trong quan hệ giữa cha mẹ và con cái, đa số các GĐTL cũng đi theo xu hướng “bố mẹ và con cái cùng quyết định” - thể hiện sự bình đẳng giữa hai thế hệ khá tích cực. Phân tích còn chỉ ra rằng mức độ bình đẳng giới và bình đẳng thế hệ này ở các GĐTL không chỉ cao hơn so với nhóm gia đình thu nhập thấp mà còn cao hơn cả nhóm gia đình giàu có. Điều này không chỉ làm nổi bật ưu thế của các GĐTL về mức độ bình đẳng cao trong quan hệ gia đình, mà còn đưa ra câu hỏi cần được trả lời là tại sao trong các gia đình giàu có (nhóm khá giả, trên trung lưu), mức độ bình đẳng trong quan hệ gia đình lại thấp hơn nhóm GĐTL như nghiên cứu đã chỉ ra.

Một số đặc điểm sự biến đổi gia đình Việt Nam trong mấy thập niên qua

Tác giả: Nguyễn Hữu Minh & Trần Thị Hồng

Trang: 3-15

Tóm tắt: Trên cơ sở tổng quan các công trình nghiên cứu về gia đình có quy mô quốc gia và kết quả khảo sát đối với 2007 đại diện hộ gia đình ở 7 tỉnh/thành phố năm 2017, báo cáo nhận diện những biến đổi cơ bản trong đặc điểm của gia đình Việt Nam trong một số thập niên qua. Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy nhiều phát hiện có ý nghĩa về sự thu hẹp quy mô và cơ cấu gia đình; sự xuất hiện những loại hình gia đình mới; sự thay đổi theo hướng bình đẳng hơn trong quan hệ vợ chồng mặc dù vẫn còn đó sự bảo lưu các phân công lao động trên cơ sở giới truyền thống; xu hướng dân chủ hơn trong quan hệ cha mẹ-con cái vị thành niên và sự quan tâm của cha mẹ đối với con cái trên nhiều chiều cạnh về nội dung và phương pháp giáo dục; sự tăng tỷ lệ người cao tuổi và những khó khăn trong việc chăm sóc người cao tuổi trong bối cảnh của xu hướng hạt nhân hóa gia đình, mở rộng cơ hội việc làm ngoài gia đình của người phụ nữ, di cư, v.v. Bài viết đã gợi ra một số vấn đề cần quan tâm đối với chính sách phát triển gia đình trong bối cảnh Việt Nam tham gia ngày càng sâu rộng vào hội nhập kinh tế với khu vực và quốc tế.