Điểm nhấn
Liên kết web
Số lượt truy cập

9

219865

Hợp tác trao đổi thông tin

Hội thảo công bố báo cáo nghiên cứu “Hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ” (Towards Gender Equality in Viet Nam: Making inclusive growth work for women)

20/07/2016
Ngày 3/6/2016 tại Hà Nội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Cơ quan Liên hợp quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ (UN Women) và các đối tác đã tổ chức Hội thảo công bố báo cáo nghiên cứu “Hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ.”

Mục tiêu của Hội thảo nhằm:

  1. Giới thiệu các kết quả và hàm ý chính sách của nghiên cứu “Hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ” đến các cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức và cơ quan nghiên cứu và hoạt động về bình đẳng giới tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
  2. Thảo luận về những phát hiện của nghiên cứu và hàm ý chính sách của nghiên cứu đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế vĩ mô ở Việt Nam hiện nay.

Báo cáo nghiên cứu “Hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ” được hoàn thành sau 2 năm thu thập số liệu và phân tích. Mục tiêu của Nghiên cứu nhằm đánh giá những cam kết của Việt Nam về bình đẳng giới trong quá trình cải cách kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế quốc gia trong việc thúc đẩy hiệu quả hơn thực trạng bình đẳng giới ở Việt Nam. Nghiên cứu do UN Women và Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới thực hiện, với sự hỗ trợ của Chính phủ Australia và Phái đoàn liên minh Châu Âu.

Khoảng 150 đại biểu từ nhiều cơ quan hoạch định chính sách và nghiên cứu, hoạt động về bình đẳng giới và vì sự phát triển của phụ nữ Việt Nam tại Hà Nội đã đến tham dự Hội thảo, bao gồm:

- Đại diện của các cơ quan hoạch định chính sách: Vụ Bình đẳng giới, Trung tâm Dịch vụ Việc làm Quốc gia (Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội); Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; Bộ Tài chính; Bộ Y tế; Bộ Giáo dục và Đào tạo; Bộ Khoa học và Công nghệ; ủy ban các vấn đề xã hội của Quốc hội; Văn phòng Quốc hội, ủy ban Dân tộc, ủy ban UNESCO Quốc gia Việt Nam (Bộ Ngoại giao), Bộ Tư pháp.

- Các tổ chức: Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; Hội đồng Doanh nhân nữ; Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Hiệp hội Dệt may Việt Nam.

- Các cơ quan nghiên cứu phục vụ chính sách: Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam: Viện Xã hội học, Viện Kinh tế Việt Nam, Viện Thông tin Khoa học Xã hội, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới; Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Tổng cục Thống kê; Học viện Phụ nữ Việt Nam; Viện Khoa học Lao động Xã hội; Quỹ Phát triển Khoa học Công nghệ Quốc gia (NAFOSTED); Trường Đại học Văn hóa Hà Nội; Viện Dân số và Các vấn đề Xã hội; v.v.

- Đại sứ Hà Lan, Phó đại sứ Australia, đại diện Đại sứ quán Na-uy, Bỉ, Tây Ban Nha, Phái đoàn liên minh châu Âu tại Việt Nam, DFAT.

- Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực bình đẳng giới và tăng trưởng: Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc UNDP, UN Women, Quỹ dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Oxfam, CARE, ActionAid Vietnam, Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Ngân hàng Thế giới (World Bank), Ngân hàng Phát triển châu á (Asian Development Bank), Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Quỹ Châu á (Asia Foundation), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA).

- Các tổ chức phi chính phủ của Việt Nam có các hoạt động nghiên cứu về giới và bình đẳng giới như Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội, Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng Khoa học về Giới, Gia đình, Phụ nữ và Vị thành niên (CSAGA), Viện Sức khỏe Sinh sản và Gia đình, Trung tâm Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển, Viện Dân số, Gia đình và Trẻ em.

- Các cơ quan truyền thông

Hội thảo khai mạc bằng các phát biểu của PGS.TS Đặng Nguyên Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Bà Shoko Ishikawa, Trưởng đại diện tổ chức UN Women tại Việt Nam và Ông Layton Pike, Phó Đại sứ Australia tại Việt Nam. Các phát biểu khai mạc đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới và ý nghĩa của nghiên cứu về "Hướng tới bình đẳng giới tại Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ'’ do UN Women và các cơ quan đối tác thực hiện, trong đó có sự đóng góp của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thông qua sự tham gia của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới.

Sau nội dung khai mạc, đại diện các cơ quan thực hiện Nghiên cứu đã giới thiệu bản báo cáo đến các đại biểu. Báo cáo bao gồm 1 bản báo cáo đầy đủ và 1 báo cáo tóm tắt (tiếng Anh và tiếng Việt). Sau đó là phần trình bày các nội dung chính của Báo cáo nghiên cứu do đại diện nhóm nghiên cứu thực hiện và các thảo luận về kết quả nghiên cứu đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế vĩ mô cũng như việc hoạch định chính sách về bình đẳng giới ở Việt Nam. Báo cáo nghiên cứu đã nêu bật những phát hiện chính và các khuyến nghị chính sách để có thể thúc đẩy việc hiện thực hóa tiềm năng của phụ nữ và giúp cho sinh kế của họ đảm bảo hơn, thúc đẩy mối quan tâm một cách rộng rãi thông qua các chính sách và chương trình kinh tế có yếu tố giới của Chính phủ Việt Nam.

Là báo cáo toàn diện đầu tiên phân tích nền kinh tế thông qua lăng kính giới, Nghiên cứu này cho thấy mặc dù phụ nữ đang góp một phần lớn trong phát triển kinh tế, việc đạt được mô hình tăng trưởng bao trùm vẫn là một thách thức đối với Việt Nam. Nghiên cứu cảnh báo rằng nếu những lợi ích của tăng trưởng kinh tế được phân bổ không đều và quản lý không tốt, quá trình hội nhập có thể duy trì sự tách biệt về giới trên thị trường lao động, đồng thời làm gia tăng tình trạng dễ bị tổn thương của lao động nữ và duy trì khoảng cách tiền lương giữa hai giới.

Phát biểu tại Hội thảo công bố báo cáo nghiên cứu, ông Layton Pike, Phó Đại sứ Australia cho biết: “Chính phủ Australia rất vui mừng được hỗ trợ báo cáo nghiên cứu này bởi báo cáo nhấn mạnh bình đẳng giới không phải một vấn đề bên lề. Từ nông nghiệp đến giáo dục, phụ nữ và nam giới tham gia khác nhau vào các lĩnh vực của nền kinh tế và khác nhau trong việc tiệp cận những nguồn lực và dịch vụ. Chúng ta cần có cách nhìn khác rằng sự chuyển đổi nhanh chóng của nền kinh tế Việt Nam đang ảnh hưởng tới phụ nữ so với nam giới. Vì vậy những chính sách và hành động cần tập trung tạo điều kiện để tất cả mọi người được thụ hưởng công bằng các lợi ích từ việc phát triển kinh tế xã hội.”

Sự hình thành Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào cuối tháng 12 năm 2015 và việc ký kết hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP) vào cuối năm 2015 là những bước tiến xa hơn của Việt Nam trong quá trình hội nhập sâu rộng với quốc tế. Sự tham gia của Việt Nam trong những hiệp định thương mại mới này sẽ mở ra hàng loạt các cơ hội tăng trưởng trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong các ngành sản xuất, dệt may và điện tử. Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng trong việc làm cho đến nay chủ yếu tập trung vào các công việc không đòi hỏi tay nghề. Các cơ hội về đào tạo, phát triển kỹ năng và thăng tiến trong những ngành nghề này rất hạn chế, đặc biệt đối với phụ nữ.

Bà Shoko Ishikawa, Trưởng Đại diện của UN Women phát biểu tại Hội thảo công bố báo cáo cho biết “Mô hình tăng trưởng kinh tế hiện tại của Việt Nam chưa chú ý đến việc đảm bảo quyền của phụ nữ được hưởng lợi bình đẳng từ sự phát triển, và nếu các chính sách và ưu tiên hiện thời không được xem xét lại và cải cách từ góc độ giới, hội nhập kinh tế sâu rộng hơn sẽ có thể bỏ phụ nữ lại phía sau.”

Báo cáo lưu ý rằng mặc dù nhiều cơ hội công việc được mở ra cho lao động nữ trong những ngành xuất khẩu, song phụ nữ ít có cơ hội được đào tạo và thăng tiến hơn nam giới, và khoảng cách giới trong thu nhập đang giãn rộng dần theo thời gian. Báo cáo cũng cho thấy, nông nghiệp vẫn là nguồn sinh kế chính của phần lớn người dân, đặc biệt là phụ nữ ở khu vực Bắc Trung bộ và Tây Nguyên, nhưng đa số họ vẫn làm việc mà không được trả công trong các nông trại gia đình. Điều này khiến họ trở nên dễ bị tổn thương, do có rất ít cơ hội đảm bảo thu nhập và năng suất lao động. Giống như ở nhiều quốc gia khác, phụ nữ Việt Nam cũng dành nhiều thời gian hơn để làm công việc nội trợ không được trả công. So với nam giới, gánh nặng công việc không được trả công đã hạn chế khả năng tiếp cận của phụ nữ đến các cơ hội kinh tế và năng lực tham gia của họ vào các công việc được trả công, làm tăng mức độ stress của họ và có tác động đến quan hệ quyền lực trong gia đình.

Nghiên cứu đã đề xuất những khuyến nghị về chính sách để có thể thúc đẩy việc hiện thực hóa tiềm năng của phụ nữ và giúp cho sinh kế của họ đảm bảo hơn, cho dù phụ nữ là những người nông dân làm việc ở quy mô nhỏ, lao động giúp việc gia đình được trả lương hay công nhân nhà máy may. Báo cáo nghiên cứu có thể được sử dụng như một tài liệu tham khảo về vị thế của phụ nữ ở Việt Nam, đồng thời cung cấp các bằng chứng thực tiễn góp phần thúc đẩy mối quan tâm một cách rộng rãi và việc thông qua tất cả các chính sách và chương trình kinh tế có yếu tố giới của Chính phủ Việt Nam.

PGS.TS Đặng Nguyên Anh, Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã nhấn mạnh việc công bố báo cáo nghiên cứu là một minh chứng sinh động cho sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức quốc tế và trong nước đối với sự nghiệp đấu tranh cho bình đẳng giới ở Việt Nam. Đồng thời các kết quả nêu ra tại hội thảo cho thấy “để đạt được bình đẳng giới thực sự cho phụ nữ thì các chính sách phải đảm bảo được tính bao trùm xã hội, trong đó đặc biệt chú ý đến phụ nữ và các nhóm dễ bị tổn thương.”

Để thông tin về những phát hiện và khuyến nghị chính sách của nghiên cứu đến với nhiều nhà hoạch định chính sách và các nhà nghiên cứu quan tâm, bản Báo cáo đầy đủ và báo cáo tóm tắt của Nghiên cứu được đăng tải trên website của Tổ chức UN Women khu vực Châu á – Thái Bình Dương: http://asiapacific.unwomen.org/en/news-and-events/stories/2016/06/landmark-report-warns-of-widening-gap

 

Trần Thị Cẩm Nhung