Liên kết web
Số lượt truy cập

3

145347

Hoạt động Khoa học

Nghiệm thu đề tài cấp cơ sở năm 2017 của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới

02/01/2018
Thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học năm 2017, trong tháng 11 năm 2017, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới đã tổ chức nghiệm thu hệ 10 đề tài cấp cơ sở năm 2017. Thành viên Hội đồng nghiệm thu gồm các nhà khoa học, các chuyên gia về lĩnh vực nghiên cứu gia đình và giới trong và ngoài Viện. Trong số các đề tài cấp cơ sở, tám đề tài thuộc chủ đề lịch sử gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975 và hai đề tài thuộc chủ đề nghiên cứu luận án của cán bộ hiện đang là nghiên cứu sinh.

1. Đề tài ”Tổ chức cuộc sống những năm đầu sau kết hôn trong gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do Th.S. Phí Hải Nam làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy, trong bối cảnh nông thôn miền Bắc điều kiện kinh tế vô cùng khó khăn, các cặp vợ chồng trẻ những năm đầu hôn nhân đối mặt với nhiều trở ngại. Họ không tự chủ được nhà ở; các điều kiện tiện nghi sinh hoạt và sản xuất hết sức đơn giản; phần lớn các cặp vợ chồng trẻ không có không gian riêng. Thời kỳ này, mức sống của các hộ gia đình thường ở mức nghèo khó. Thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp theo mô hình hợp tác xã, thu nhập tính theo công điểm cũng chỉ đủ để duy trì cuộc sống. Bởi vậy, phần lớn tổ chức đời sống vật chất sau khi kết hôn của các gia đình trẻ giai đoạn này phần lớn phải dựa vào bố mẹ, trong đời sống sinh hoạt hằng ngày cũng cần sự trợ giúp của anh em trong gia đình.

 

2. Đề tài ”Phân công lao động giữa vợ và chồng trong gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do Th.S. Lỗ Việt Phương làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy, do bối cảnh đặc thù nên hầu hết các công việc trong gia đình đều do người phụ nữ đảm nhiệm chính. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này đã có bằng chứng để củng cố cho các luận điểm phân công lao động theo giới trong những năm 1960 – 1975 ở nông thôn miền Bắc mang đậm nét truyền thống. Cho dù điều kiện lịch sử, hoàn cảnh xã hội là nhóm yếu tố có tác động mạnh mẽ đến mô hình phân công lao động trong gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960 – 1975 nhưng yếu tố văn hóa với điển hình là quan niệm giới truyền thống vẫn có ảnh hưởng mạnh đến sự hạn chế nam giới tham gia vào các công việc gia đình, duy trì khuôn mẫu giới truyền thống về sự tham gia của phụ nữ và nam giới đặc biệt trong các công việc nội trợ và chăm sóc các thành viên trong gia đình.

 

3. Đề tài ”Việc lựa chọn bạn đời ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do Th.S. Nguyễn Hồng Hạnh làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy ở thời kỳ này đã xuất hiện xu hướng ngày càng gia tăng các cuộc hôn nhân dựa trên sự tự do lựa chọn của cá nhân. Quyền lực của cha mẹ trong việc dựng vợ gả chồng cho con cái đã giảm đi, tuy nhiên vẫn không thể phủ định. Quyền quyết định của con cái trong hôn nhân được thể hiện rõ nét hơn ở các nhóm kết hôn ở giai đoạn sau, các nhóm có học vấn cao, làm phi nông nghiệp.

 

4. Đề tài ”Sự trợ giúp lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình mở rộng ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do CN. Đào Hồng Lê làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy cho thấy các yếu tố cá nhân và gia đình có ảnh hưởng đáng kể đến những khía cạnh khác nhau của mối quan hệ họ tộc. Tuy nhiên, vai trò của từng yếu tố có khác nhau tùy thuộc mối quan hệ và lĩnh vực trợ giúp. Trong đó, yếu tố mức sống và thế hệ là có ảnh hưởng rõ hệt hơn cả. Chẳng hạn, các hộ gia đình nghèo nhận được ít trợ giúp hơn so với các gia đình trung bình. Tuy nhiên, cha mẹ của nhóm nghèo bù đắp cho con cái của mình về công sức trong khi cha mẹ của nhóm trung bình có khả năng hỗ trợ cả về tiền bạc. Về số thế hệ trong gia đình, các thành viên trong các gia đình nhiều thế hệ vẫn có xu hướng trợ giúp nhau nhiều hơn so với nhóm gia đình hạt nhân, đặc biệt về mặt công sức. Kết quả của nghiên cứu này cũng tương đồng với một số nghiên cứu đã có, khi phân tích một số yếu tố tương quan có thể ảnh hưởng đến sự trợ giúp lẫn nhau giữa các thành viên trong gia đình mở rộng. Khi so sánh giữa hai bên nội ngoại thì thấy rằng, dù ở lĩnh vực nào, sự trợ giúp cũng thiên hơn về bên nội so với bên ngoại. Điều này đã phản ánh mô thức trợ giúp truyền thống, trong đó yếu tố thuộc về dòng họ bên nội có ảnh hưởng đáng kể trong khuôn mẫu tư duy và ứng xử. Về hình thức trợ giúp, trong giai đoạn những năm 1960-1975, phần nhiều các gia đình nhận những trợ giúp liên quan đến cung cấp thông tin/kinh nghiệm hoặc về công sức. Việc cho mượn phương tiện sản xuất hoặc cho vay tiền là khá hãn hữu. Xét từ một góc độ nào đó, có thể nói, vai trò hỗ trợ của các thành viên thân tộc vẫn được lưu giữ và chuyển hóa thành công sức và tình cảm nhiều hơn là vật chất.

 

5. Đề tài ”Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do Th.S. Lê Việt Nga làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy một đặc trưng riêng có giai đoạn 1960-1975 đó là: người vợ vừa là người có quyền quyết định chính và cao nhất ở nhiều hoạt động gia đình đồng thời người vợ cũng là người có quyền quyết định cuối cùng những vấn đề quan trọng/lớn của gia đình với xu hướng cao hơn chồng. Sở dĩ có sự ngạc nhiên thú vị này vì thời kỳ trước năm 1960, địa vị và quyền lực của phụ nữ trong gia đình rất thấp. Phải khẳng định rằng thời kỳ 1960- 1975 là thời kỳ địa vị và quyền lực của người vợ, người phụ nữ gia tăng nhanh chóng, mạnh mẽ và đạt được đỉnh cao trong gia đình. Ngạc nhiên hơn nữa là tỷ lệ bố mẹ hai bên sống chung có quyền quyết định cuối cùng các vấn đề quan trọng của gia đình cao hơn so với người chồng. Điều này có thể được lý giải bởi tình trạng thiếu vắng của người chồng - nam giới (tương đương với sự có mặt trực tiếp giải quyết công việc của người vợ - người phụ nữ) trong gia đình thời kỳ 1960-1975 và những chính sách giải phóng sức lao động của phụ nữ trong giai đoạn này.

 

6. Đề tài ”Sự tham gia của người phụ nữ trong các hoạt động cộng đồng ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do Th.S. Phan Huyền Dân làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy góc nhìn đa chiều về sự tham gia của phụ nữ trong hoạt động cộng đồng ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975 dưới tác động của các yếu tố cá nhân, yếu tố gia đình, yếu tố xã hội. Tuy nhiên, khi đặt phụ nữ trong tương quan với nam giới, nghiên cứu nhận thấy các yếu tố văn hóa truyền thống đã cản trở sự tham gia bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong các hoạt động cộng đồng, trong đó, vị trí của người phụ nữ nhìn chung thấp hơn so với nam giới trong cộng đồng. Các yếu tố cản trở đó bao gồm: (i) quan niệm “phụ đức không cần phải có tài năng gì khác người” khiến cho phụ nữ không được gia đình chú trọng nâng cao trình độ học vấn; (ii) định kiến giới cho rằng nam giới có tính quyết đoán, mạnh mẽ, phù hợp với vị trí đứng đầu, phụ nữ thụ động, cảm tính nên không đảm nhận được trọng trách; (iii) chuẩn mực văn hóa gắn trách nhiệm nội trợ và chăm sóc con cái cho người phụ nữ; (iv) chuẩn mực văn hóa coi trọng giá trị chung thủy của người phụ nữ, nhưng đôi khi biến sự coi trọng trở thành mối nghi ngờ và coi thường đạo đức của người phụ nữ, từ đó kiểm soát phụ nữ tham gia các hoạt động xã hội; và (v) những quy định trong tôn giáo là một điểm góp phần hạn chế hơn nữa sự tham gia của phụ nữ Công giáo trong hoạt động cộng đồng.

 

7. Đề tài ”Khác biệt xã hội trong tiếp cận giáo dục của trẻ em” do Th.S. Trần Quý Long làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy tiếp cận giáo dục của trẻ em là không bình đẳng giữa những nhóm có đặc điểm khác nhau về thành phần dân tộc, học vấn của bố, mức sống và nơi cư trú, trong khi lĩnh vực giáo dục là rất quan trọng để đảm bảo tăng trưởng kinh tế và phúc lợi cho cá nhân. Trẻ em là người dân tộc thiểu số, trong những gia đình có bố với học vấn thấp, mức sống nghèo và sinh sống ở nông thôn, vùng sâu vùng xa gặp nhiều bất lợi hơn trong tiếp cận giáo dục so với những trẻ em khác. Tiếp cận giáo dục của trẻ em tiếp tục có sự khác biệt khá lớn giữa những nhóm có hoàn cảnh xã hội khác nhau. Có thể nói một phần của sự khác biệt này là do sự phân phối hiếm hoi về nghề nghiệp, kỹ năng, nhu cầu xây dựng một xã hội công nghiệp thấp trong những khu vực kém phát triển, nghèo, dân tộc thiểu số. Vì thế nó đã khiến gia đình và cá nhân không chú trọng đầu tư thời gian và tiền bạc cho hoạt động tiếp cận giáo dục của trẻ em. Nhận thức của người dân ở những vùng đó luôn có tư tưởng “học hành rồi cũng chẳng để làm gì, không có chỗ làm, không xin được việc…” đã dẫn đến sự tiếp cận giáo dục của trẻ em ở những khu vực này luôn có sự thấp kém hơn trẻ em khác. Và điều này là một trong những ý quan trọng mà lý thuyết chức năng đã đề cập. Nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt giới trong tiếp cận giáo dục của trẻ em. Điều này thể hiện ở chỗ là trẻ em gái có tỷ lệ đi học đúng tuổi cao hơn trẻ em trai, được đầu tư chi phí cho các khoản đóng góp giáo dục bằng với trẻ em trai và quá trình duy trì hành trình học đường cũng dài hơn trẻ em trai.

 

8. Đề tài ”Tuổi kết hôn trung bình lần đầu ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do Th.S. Hà Minh Khương làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy, tuổi kết hôn trung bình lần đầu của người dân ở miền Bắc thời kỳ 1960-1975 đã được nâng lên so với trước đây, tuổi kết hôn được ghi nhận tuân thủ theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959 là nam từ 20 tuổi trở lên và nữ từ 18 tuổi trở lên.  Đại đa số người dân nông thôn thời kỳ 1960-1975 tuân thủ theo đúng quy định về độ tuổi kết hôn đối với từng giới theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1959, một bộ phận nam và nữ kết hôn sớm do những ảnh hưởng của yếu tố văn hóa xã hội thì còn hoàn cảnh chiến tranh là yếu tố khiến nam giới thời kỳ kết hôn sớm hơn độ tuổi theo Luật quy định. Giai đoạn 1960-1975, SMAM của cả nam giới và phụ nữ nông thôn miền Bắc có xu hướng tăng lên theo thời gian rõ rệt. Khuôn mẫu tuổi kết hôn của cả nam giới và phụ nữ nông thôn miền Bắc giai đoạn này đều theo xu hướng kết hôn muộn hơn. Chính sách và chiến tranh được cho là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh mẽ tới xu hướng quá độ từ khuôn mẫu tuổi kết hôn sớm sang tuổi kết hôn muộn hơn của thanh niên ở miền Bắc trong thời kỳ 1960-1975.

 

9. Đề tài ”Ứng phó của phụ nữ miền Trung với biến đổi khí hậu” do Th.S. Đặng Thanh Nhàn làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy, do sự khác biệt về đặc điểm thể chất, phân công lao động và vai trò xã hội, nữ giới là nhóm có xu hướng dễ bị tổn thương hơn so với nam giới. Nữ giới đã tham gia bàn bạc và quyết định hơn 70% giải pháp ứng phó với thiên tai trong trồng trọt và chăn nuôi. Nghiên cứu cũng chỉ ra, phụ nữ ở địa bàn nghiên cứu có năng lực, kinh nghiệm phong phú trong ứng phó với thiên tai. Đây chính là những nguồn lực quan trọng cần được chính quyền địa phương, các nhà chính sách huy động để ứng phó hiệu quả với thiên tai và biến đổi khí hậu trong sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, nhiều biểu hiện cho thấy bất bình đẳng giới vẫn đang tồn tại ở Phước Nam do nữ giới ít được tham gia vào các quá trình ra quyết định trong cộng đồng; do gánh nặng công việc gia đình của nữ giới chưa được chia sẻ trong khi họ phải nhận thêm nhiều trách nhiệm cùng chồng trong sản xuất.

 

10. Đề tài ”Đời sống tâm lý – tình cảm giữa vợ và chồng trong gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do Th.S. Trần Thị Vân Nương làm chủ nhiệm. Kết quả đề tài cho thấy, trong giai đoạn lịch sử từ 1960-1975, đời sống tâm lý- tình cảm vợ chồng nói chung và việc duy trì tình cảm gia đình nói riêng chịu tác động rất lớn bởi các yếu tố xã hội, lịch sử. Trong số đó, nhân tố về bối cảnh như chiến tranh, sự chia cắt hai miền đất nước, các chính sách kinh tế - xã hội ở miền Bắc… có ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống gia đình và những diễn biến trong đời sống tâm lý- tình cảm giữa vợ và chồng gia đình nông thôn miền Bắc Việt Nam.

 

Đánh giá về kết quả chung, Hội đồng nghiệm thu cho rằng các đề tài cấp cơ sở năm 2017 đã có những đóng góp đáng kể lấp đầy khoảng trống trong nghiên cứu, đặc biệt tám đề tài thuộc chủ đề lịch sử gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975 đã góp phần nhận diện những đặc điểm và khuôn mẫu hôn nhân-gia đình đồng bằng sông Hồng trong một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, bao gồm vấn đề tuổi kết hôn trung bình lần đầu, lựa chọn bạn đời, tổ chức cuộc sống những năm đầu sau kết hôn, phân công lao động giữa vợ và chồng, quyền quyết định giữa vợ và chồng, mối quan hệ tương trợ giữa các thành viên trong gia đình mở rộng, và một số khía cạnh của đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng trong gia đình nông thôn miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1960-1975, v.v.

 

Trên cơ sở các ý kiến góp ý, nhận xét và đánh giá của thành viên Hội đồng nghiệm thu, các chủ nhiệm đề tài cấp cơ sở sẽ hoàn thiện báo cáo cuối cùng và chủ nhiệm báo cáo thường niên hoàn thiện nội dung báo cáo trước khi nghiệm thu cấp Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Đánh giá chung về tiến độ và kết quả của các đề tài, TS. Trần Thị Minh Thi, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, khẳng định rằng, cho dù còn có những khó khăn nhất định trong triển khai nghiên cứu, các đề tài về cơ bản đã đảm bảo tiến độ, các nội dung nghiên cứu và có nhiều phát hiện quan trọng về đặc điểm hôn nhân, gia đình nông thôn miền Bắc Việt Nam thời kỳ 1960-1975. TS. Trần Thị Minh Thi cảm ơn những nhận xét có chất lượng chuyên môn cao của hội đồng nghiệm thu, giúp các chủ nhiệm đề tài và thành viên đề tài hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng các báo cáo. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, Viện sẽ tiếp tục triển khai hệ đề tài cơ sở nghiên cứu gia đình nông thôn miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1975-1986.

 

2017

 

Lê Việt Nga


Các tin cũ hơn.................................................