Hoạt động Khoa học

HỘI THẢO KHOA HỌC BÁO CÁO KẾT QUẢ GIỮA KỲ NĂM 2017, VIỆN NGHIÊN CỨU GIA ĐÌNH VÀ GIỚI

13/10/2017
Thực hiện kế hoạch hoạt động khoa học năm 2017, ngày 25/9/2017, Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới tổ chức Hội thảo khoa học giữa kỳ báo cáo kết quả sơ bộ hệ 8 đề tài cơ sở và cấp Bộ độc lập năm 2017 theo hai chủ đề: (1) Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình; và (2) Trẻ em và phụ nữ với cộng đồng và xã hội.

Chủ đề 1: Nghiên cứu về hôn nhân và gia đình                                                        

Đề tài: “Tuổi kết hôn trung bình lần đầu ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975: Một số vấn đề về chính sách và thực tiễn” do ThS. Hà Thị Minh Khương làm chủ nhiệm. Kết quả ban đầu cho thấy có một số đặc điểm khá chú ý sau về tuổi kết hôn: tuổi kết hôn trung bình lần đầu có sự khác biệt theo giới tính, theo lớp thế hệ, theo nghề nghiệp, theo học vấn và theo sự gia nhập quân đội.

 

Đề tài: “Đặc điểm hôn nhân ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975” do ThS. Nguyễn Thị Hồng Hạnh làm chủ nhiệm. Tác giả trình bày những kết quả ban đầu về quá trình tìm hiểu, lý do kết hôn, những đặc điểm tương đồng giữa vợ và chồng khi kết hôn, quyền quyết định trong hôn nhân...

 

Đề tài: “Quyền quyết định giữa vợ và chồng trong gia đình nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960 -1975: Một số phát hiện từ nghiên cứu định lượng”, do ThS. Lê Việt Nga làm chủ nhiệm. Những kết quả ban đầu cho thấy, người vợ tham gia quyết định nhiều hơn người chồng trong các công việc gia đình, nhưng khi quyết định chính, quyết định cuối cùng lại là người chồng từ đó tác giả cho rằng bất bình đẳng giới trong thời kỳ này tương đối rõ rệt.

 

Đề tài: “Phân công lao động với việc thực hiện các công việc hàng ngày trong gia đình nông thôn miền Bắc trong giai đoạn 5 năm đầu hôn nhân” do ThS. Lỗ Việt Phương làm chủ nhiệm. Cũng nghiên cứu về hoạt động trong gia đình, nhưng ThS. Lỗ Việt Phương lại nghiên cứu góc độ phân công lao động giữa vợ và chồng. Theo kết quả nghiên cứu, người vợ làm chính 9 hoạt động, chồng làm chính 2 hoạt động, từ đó tác giả đưa ra nhận xét ban đầu rằng người vợ là người có thực hiện chính các công việc nội trợ gia đình; tác giả cũng đưa ra phát hiện sự tham gia vào công việc gia đình của người chồng đang tăng lên.

 

Đề tài: “Các hoạt động chăm sóc con cái tại khu vực nông thôn miền bắc trong giai đoạn 1960 – 1975” do ThS. Phí Hải Nam làm chủ nhiệm. Kết quả cho thấy: việc làm chính của người chồng có một liên hệ chặt chẽ với việc dành thời gian chăm sóc con; đối với người vợ, khu vực làm việc có ý nghĩa với thời gian chăm sóc con.

 

Chủ đề 2: Trẻ em và phụ nữ với cộng đồng và xã hội

 

Đề tài: “Khác biệt xã hội trong tiếp cận giáo dục trung học của trẻ em” ThS. Trần Quý Long làm chủ nhiệm. Kết quả cho thấy một số yếu tố cá nhân, gia đình, khu  vực có ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục trung học của trẻ em.

 

Đề tài: “Sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động cộng đồng giai đoạn 1960-1975: Những phát hiện chính” ThS. Phan Huyền Dân làm chủ nhiệm. Kết quả ban đầu cho thấy nhìn chung phụ nữ đã tham gia tích cực vào các công việc cộng đồng khi người chồng đi chiến đấu; và sự tham gia của phụ nữ chịu ảnh hưởng từ các yếu tố: sự vắng mặt của chồng, xuất thân gia đình, hôn nhân...

 

Đề tài: “Sự trợ giúp của các thành viên gia đình mở rộng ở nông thôn miền Bắc giai đoạn 1960-1975: một số phát hiện ban đầu qua dữ liệu định tính”, ThS. Đào Hồng Lê làm chủ nhiệm. Tác giả trình bày những kết quả ban đầu về sự trợ giúp trong sản xuất, xây dựng nhà cửa, tinh thần, tình cảm của các thành viên gia đình mở rộng.

 

Đề tài: “Chiều cạnh giới trong ứng phó với biến đổi khí hậu” ThS. Đặng Thanh Nhàn làm chủ nhiệm. Tác giả trình bày kết quả nghiên cứu tài liệu về biến đổi kính hậu tác động đến sinh kế, đến vai trò chăm sóc của phụ nữ, đến sức khoẻ và những ứng phó của người dân, nhất là phụ nữ đến biến đổi khí hậu.

 

Đề tài: “Quyền được đối xử công bằng của lao động nữ ở các doanh nghiệp ngoài quốc doanh” do TS. Trần Thị Hồng làm chủ nhiệm. Tác giả nhận định chính phủ Việt Nam đã có những nỗ lực vượt bậc trong việc ban hành các chính sách và thể chế hoá  các quyền lợi của người lao động nữ, tuy nhiên, giữa chính sách và thực tiễn vẫn tồn tại những khoảng cách không nhỏ làm ảnh hưởng đến quyền của người lao động nữ trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

 

Trong 10 báo cáo đề tài được trình bày, có 8 báo cáo đề tài của các tác giả: Hà Thị Minh Khương, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Lê Việt Nga, Lỗ Việt Phương, Phí Hải Nam, Phan Huyền Dân, Đào Hồng Lê là thuộc vào nhóm đề tài nghiên cứu về lịch sử gia đình miền Bắc giai đoạn 1960-1975 do Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới chủ trì. Nhiệm vụ chung của các đề tài là nhằm nhận diện những đặc điểm và khuôn mẫu hôn nhân-gia đình đồng bằng sông Hồng trong một giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nước, về một số chủ đề, bao gồm tuổi kết hôn trung bình lần đầu, lựa chọn bạn đời, tổ chức cuộc sống những năm đầu sau kết hôn, phân công lao động giữa vợ và chồng, quyền quyết định giữa vợ và chồng, và một số khía cạnh của đời sống tâm lý tình cảm vợ chồng trong gia đình nông thôn miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1960-1975, v.v.

 

Đánh giá về kết quả sơ bộ, nhìn chung các đại biểu Hội thảo đánh giá các báo cáo đã đi đúng hướng, dữ liệu của các đề tài được phân tích nghiêm túc, công việc triển khai đúng tiến độ. Một số đại biểu đã đưa ra nhận xét, góp ý thêm về chuyên môn, kỹ thuật phân tích để giúp các chủ nhiệm hoàn thiện hơn trong báo cáo cuối cùng.

 

Tháng 9 năm 2017

 

Nguyễn Đức Tuyến


Các tin cũ hơn.................................................